Sự biến động tỷ lệ chiết khấu - hành vi cơ hội trong kiểm soát chi phí và lợi nhuận
Đã đọc: 2280 lượt.Đăng ngày: 26.11.2009 16:29
Việc lựa chọn tỷ lệ chiết khấu được coi là vấn đề trung tâm trong việc quyết định quy mô của chi phí giảm giá trị của tài sản. Trong mô hình chiết khấu luồng tiền, lựa chọn tỷ lệ chiết khấu tùy ý có thể được sử dụng một cách cơ hội để xuyên tạc giá trị hiện tại, chi phí giảm giá trị của tài sản, lợi nhuận và ảnh hưởng đến tính trung thực và hợp lý của các khoản mục trên Báo cáo tài chính (BCTC).
Nghiên cứu này cung
cấp thêm bằng chứng về hành vi cơ hội trong việc kiểm soát chi phí và
lợi nhuận thông qua việc kiểm tra giảm giá trị của tài sản. Bằng việc
so sánh tỷ lệ chiết khấu ước tính và tỷ lệ chiết khấu do các Công ty
niêm yết trên thị trường chứng khoán Hồng Kông trình bày trong thời kỳ
từ năm 2005 đến năm 2007, nghiên cứu phát hiện ra rằng có sự biến động
lớn về tỷ lệ chiết khấu áp dụng giữa các năm theo hướng tỷ lệ chiết
khấu được áp dụng cao hơn mức hợp lý.
1. Giới thiệu Lợi thế thương mại (LTTM)
là một trong các chủ đề gây tranh luận nhất trên thế giới. Trước đó,
LTTM được mô tả như là sự không nhìn thấy được, không tin cậy, có thể
rắc rối và hay thay đổi trong việc ghi nhận, đo lường và báo cáo. Sau
nhiều năm tranh luận gay gắt, LTTM vẫn được coi như là chỉ tiêu lạc
lõng trên BCTC. Với bản chất vô hình của
LTTM và có nhiều cách hiểu khác nhau, vì vậy có nhiều sự thay đổi trong
việc ghi nhận, đo lường và báo cáo nó trên BCTC. Qua thời gian và hệ
thống pháp lý, sự lộn xộn trong việc ghi nhận, đo lường và báo cáo nó
được mô tả trong các chuẩn mực kế toán. Cụ thể, LTTM được ghi giảm vào
quỹ dự phòng hoặc vào lợi nhuận chưa phân phối; vốn hóa LTTM và chỉ ghi
giảm khi có đủ bằng chứng; vốn hóa LTTM và khấu hao định kỳ theo phương
pháp bình quân; và vốn hóa LTTM và tiến hành kiểm tra giảm giá trị của
LTTM hàng năm. Trong ngữ cảnh của Hồng
Kông, sự tranh luận về kế toán LTTM và tài sản cố định vô hình đã diễn
ra nhiều năm với nhiều phương pháp ghi nhận, đo lường và báo cáo.
Phương pháp khấu hao bắt buộc hàng năm đã bị thay thế bằng phương pháp
mới, sự giảm giá trị của LTTM mà phương pháp mới này dựa trên rất nhiều
các giả định mang tính chủ quan. Theo Chuẩn mực Kế toán Hồng
Kông số 36 (HKAS 36) “Giảm giá trị của tài sản”, có hai phương pháp để
xác định giá trị có thể thu hồi của tài sản là phương pháp giá trị hợp
lý và giá trị sử dụng. Trong việc áp dụng phương pháp giá trị sử dụng,
mô hình chiết khấu luồng tiền được coi là mô hình có độ tin cậy cao để
xác định giá trị có thể thu hồi của tài sản, qua đó so sánh với giá trị
ghi sổ của tài sản để xác định chi phí giảm giá trị của tài sản. Trong
mô hình này, tỷ lệ chiết khấu được coi là rất quan trọng trong việc
chiết khấu luồng tiền tương lai về giá trị hiện tại. 2. Quy định chung LTTM phát sinh từ hợp nhất
kinh doanh thể hiện khoản thanh toán của bên mua cho những lợi ích kinh
tế thu được trong tương lai từ những tài sản không đủ tiêu chuẩn ghi
nhận và không xác định được một cách riêng biệt. LTTM lần đầu tiên xuất
hiện tại Hồng Kông trong quy định “Trình bày BCTC” vào tháng 3/1984. Từ
1984 đến 2004, phương pháp “vốn hóa và khấu hao” đối với LTTM dựa trên
giả định rằng thời gian sử dụng hữu ích không quá 20 năm. Để phù hợp với Chuẩn mực
lập BCTC quốc tế (IFRSs), Hồng Kông đã xây dựng khung pháp lý về kế
toán có hiệu lực từ 1/1/2005. Theo quy định của HKAS 36, phương pháp
khấu hao bị thay thế bằng phương pháp kiểm tra giảm giá trị của tài sản
dựa trên nhiều giả định mang tính chủ quan. Theo HKAS 36, các đơn vị
thực hiện vốn hóa LTTM, và ghi nhận chi phí giảm giá trị của tài sản
nếu giá trị có thể thu hồi của tài sản thấp hơn giá trị ghi sổ. Để xác định chi phí giảm
giá trị của tài sản, đơn vị cần xác định tài sản hoặc nhóm tài sản tạo
ra luồng tiền, ước tính luồng tiền trong tương lai, lựa chọn tỷ lệ
chiết khấu, xác định giá trị có thể thu hồi của tài sản, và ghi giảm
giá trị ghi sổ xuống bằng với giá trị có thể thu hồi của tài sản. Trên thực tế, luồng tiền
được tạo ra chủ yếu không phải từ từng tài sản mà chủ yếu được tạo ra
từ nhóm các tài sản trong đơn vị. Khi giá trị sử dụng không được xác
định cho từng tài sản, nó sẽ được xác định cho nhóm tài sản mà tạo ra
luồng tiền vào độc lập với luồng tiền vào của các tài sản khác hoặc
nhóm các tài sản khác. Nhóm tài sản đó được gọi là đơn vị tạo tiền
(CGU). Do LTTM không tạo ra luồng
tiền vào độc lập từ các tài sản khác hoặc nhóm các tài sản khác, cho
nên LTTM sẽ được phân bổ cho từng đơn vị tạo tiền. Sau khi xác định
được giá trị ghi sổ của CGUs, giá trị LTTM phân bổ cho từng CGU, đơn vị
sẽ tiến hành xác định giá trị có thể thu hồi của từng CGU. Khi đã xác định giá trị có
thể thu hồi của từng CGU, đơn vị tiến hành so sánh với giá trị ghi sổ.
Nếu giá trị có thể thu hồi lớn hơn giá trị ghi sổ thì không xuất hiện
chi phí giảm giá trị. Ngược lại, nếu giá trị thu hồi của các CGU thấp
hơn giá trị ghi sổ, khi đó giá trị ghi sổ sẽ bị ghi giảm bằng với giá
trị có thể thu hồi để bảo đảm rằng tài sản được ghi nhận trên BCTC
không cao hơn giá trị có thể thu hồi. Khoản chênh lệch đó được ghi nhận
là chi phí giảm giá trị của tài sản, được phản ánh trên Báo cáo kết quả
kinh doanh. Chi phí giảm giá trị này sẽ được phân bổ cho LTTM mà đã
phân bổ cho từng CGU, sau đó phân bổ đến các tài sản khác theo tỷ lệ %
trong nhóm CGU đó. Theo mô hình chiết khấu
luồng tiền, giá trị hiện tại của tài sản (giá trị có thể thu hồi) được
xác định bằng cách chiết khấu luồng tiền tương lai thông qua tỷ lệ
chiết khấu. Nếu tỷ lệ chiết khấu được áp dụng thấp hơn thực tế (mức hợp
lý) thì giá trị có thể thu hồi sẽ bị ghi nhận cao hơn thực tế và khi so
sánh với giá trị ghi sổ thì có khả năng chi phí giảm giá trị của tài
sản bị ghi thấp hơn thực tế hoặc sẽ không tồn tại chi phí giảm giá trị
của tài sản. Ngược lại, nếu tỷ lệ chiết khấu bị ghi nhận quá cao sẽ dẫn
đến giá trị có thể thu hồi bị ghi nhận quá thấp và chi phí giảm giá trị
của tài sản sẽ bị ghi nhận cao hơn thực tế. Như vậy, tỷ lệ chiết khấu
được áp dụng hoặc cao hơn hoặc thấp hơn mức hợp lý (mức thực tế) sẽ ảnh
hưởng đến giá trị có thể thu hồi của các CGUs, giá trị LTTM, chi phí
giảm giá trị của tài sản và lợi nhuận trong kỳ kế toán. 3. Các công trình đã nghiên cứu Carlin và nhóm nghiên cứu
(2008) kiểm tra giảm giá trị của LTTM theo Chuẩn mực lập BCTC quốc tế -
sự ảo tưởng về chất lượng trình bày và tính tuân thủ của các công ty
niêm yết của Úc trong năm 2006, phát hiện ra rằng chất lượng trình bày
thấp và tính tuân thủ không cao, trong đó tỷ lệ chiết khấu trình bày
rất lộn xộn và theo ý tưởng chủ quan. Hội đồng Báo cáo tài chính
của Anh (2008) tiến hành soát xét việc trình bày giảm giá trị của LTTM
của các công ty trong năm 2008. Kết quả cũng minh chứng rằng tính tuân
thủ không cao và chất lượng trình bày kém liên quan đến giảm giá trị
của LTTM cũng như tỷ lệ chiết khấu. Carlin và Finch (2008)
nghiên cứu về tỷ lệ chiết khấu lộn xộn-bằng chứng về phương pháp giảm
giá trị của LTTM chưa hoàn thiện. Nghiên cứu này tiến hành ước tính tỷ
lệ chiết khấu và so sánh với tỷ lệ chiết khấu đã áp dụng của các công
ty niêm yết của úc năm 2006 và phát hiện ra rằng tỷ lệ chiết khấu trình
bày thấp, làm cho giá trị có thể thu hồi của tài sản bị ghi cao hơn
thực tế, chi phí giảm giá trị của tài sản bị ghi thấp hơn thực tế; kết
quả là lợi nhuận bị ghi cao hơn thực tế theo chủ nghĩa cơ hội từ phía
các nhà quản lý doanh nghiệp. Carlin và nhóm nghiên cứu
(2008) kiểm tra sự tác động của chuẩn mực kế toán tại Malaysia: đánh
giá tính tuân thủ trong việc trình bày đối với các công ty lần đầu áp
dụng chuẩn mực giảm giá trị của tài sản. Nghiên cứu này được thực hiện
đối với các công ty niêm yết của Malaysia trong năm 2006 thông qua việc
kiểm tra giảm giá trị của LTTM và phát hiện ra chất lượng trình bày và
tính tuân thủ thấp. Trong đó, tỷ lệ chiết khấu bị trình bày thấp hơn
thực tế theo ý muốn chủ quan từ phía các nhà quản lý doanh nghiệp. Còn rất nhiều nghiên cứu về
chất lượng trình bày và tính tuân thủ thông qua việc kiểm tra giảm giá
trị của LTTM tại Singapore, New Zealand và tỷ lệ chiết khấu áp dụng
trong mô hình chiết khấu luồng tiền. Các nghiên cứu trên đều khẳng định
rằng tỷ lệ chiết khấu bị trình bày thấp hơn thực tế. Tuy nhiên, các
nghiên cứu trên chỉ nghiên cứu về chất lượng trình bày và tính tuân thủ
về giảm giá trị của LTTM cũng như tỷ lệ chiết khấu có liên quan chỉ
trong 1 năm tài chính, chưa có nghiên cứu cụ thể nào về sự biến động về
áp dụng tỷ lệ chiết khấu qua các năm, cũng như chưa có nghiên cứu nào
về vấn đề này đối với Hồng Kông từ khi áp dụng Chuẩn mực lập BCTC
(HKFRS). Chính vì vậy, nghiên cứu này có mục đích đánh giá sự biến động
về tỷ lệ chiết khấu được áp dụng qua các năm 2005 đến 2007. Vì lý do trên, nghiên cứu
này được thực hiện để trả lời câu hỏi : Tỷ lệ chiết khấu biến động như
thế nào qua các năm từ 2005 đến 2007 tại các Công ty niêm yết chứng
khoán Hồng Kông? 4. Thu thập số liệu và phương pháp nghiên cứu HKAS 36 “Giảm giá trị của
tài sản” có hiệu lực từ 1/1/2005, chính vì vậy năm 2005 được coi là năm
đầu tiên áp dụng chuẩn mực. Trong nghiên cứu này, số liệu được thu thập
cho thời kỳ từ năm 2005 đến năm 2007. Tiêu chuẩn chọn mẫu được thực
hiện bao gồm:
- Các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Hồng Kông (HKEx);
- Các công ty có số dư Lợi thế thương mại, và tuân thủ theo HKFRS;
- Các công ty áp dụng tỷ lệ chiết khấu giống nhau cho các đơn vị tạo tiền;
Dựa trên tiêu chuẩn chọn
mẫu nêu trên, có 85 công ty được chọn trong năm 2005, 142 công ty trong
năm 2006 và 161 công ty trong năm 2007. Mô hình đánh giá tài sản
vốn (CAPM) được áp dụng để ước tính tỷ lệ chiết khấu. Mô hình này được
xem là tối ưu trong việc xác định tỷ lệ chiết khấu vì nó phản ánh được
việc đánh giá thị trường hiện tại và rủi ro liên quan đến từng đơn vị
tạo tiền. Tỷ lệ chiết khấu sau thuế được xác định theo công thức theo
mô hình CAPM: Ra = Rf + βu * (Rm - Rf) Trong đó:
- Ra : Tỷ lệ hoàn vốn sau thuế đối với tài sản
- Rf : Tỷ lệ lãi suất tự do dài hạn
- βu : Beta phản ánh cơ cấu vốn không bao gồm công nợ phải trả
- Rm - Rf : Chênh lệch giữa tỷ lệ hoàn vốn thị trường và tỷ lệ lãi suất tự do dài hạn.
Tỷ lệ lãi suất tự do dài
hạn là 4,18% trong năm 2005, 3,73% trong năm 2006 và 3,44% trong năm
2007 theo số liệu của Tổ chức Tiền tệ Hồng Kông. βu được thu thập từ chương trình DATASTREAM. Rm - Rf có tỷ lệ 6% theo các công trình nghiên cứu của Gameiro (2008), Song (2007), Fernandez (2008a), Fernandez (2008b). Tiến hành xác định tỷ lệ
chiết khấu trước thuế bằng cách lấy tỷ lệ hoàn vốn sau thuế chia cho 1
trừ (-) thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp (17.5%). Sau khi xác định
tỷ lệ chiết khấu ước tính, tiến hành so sánh với tỷ lệ chiết khấu do
doanh nghiệp sử dụng. Sự thay đổi được phân theo điểm cơ bản (bp) của
từng công ty. Một hệ thống điểm cơ bản
(bp) được xây dựng để thuận lợi hơn trong việc so sánh giữa tỷ lệ chiết
khấu ước tính và tỷ lệ chiết khấu do đơn vị áp dụng. Điểm cơ bản được
tính toán dựa trên tỷ lệ chiết khấu ước tính độc lập và được phân thành
5 nhóm. Cụ thể, nhóm trong khoảng -150 đến +150 bps (vùng hợp lý); +150
đến +250 bps, cao hơn +250 bps, -250 đến -150 bps và nhóm thấp hơn -250
bps. Ví dụ, giả sử tỷ lệ chiết khấu ước tính là 10%/năm, điểm cơ bản
-150 bps sẽ là 8.5%, điểm cơ bản -250 bps là 7,5%, điểm cơ bản +150 bps
là 11.5%, và điểm cơ bản +250 bps là 12.5%. Theo Carlin (2008), nếu tỷ
lệ chiết khấu áp dụng nằm trong khoảng từ -150 đến +150 bps được coi là
tỷ lệ chiết khấu chấp nhận được. Ngược lại, tỷ lệ chiết khấu nằm ngoài
khoảng (-150 bps; +150 bps) được coi là bị trình bày hoặc cao hơn hoặc
thấp hơn thực tế (mức hợp lý). 5. Kết quả và thảo luận Nghiên cứu này đánh giá sự
biến động về tỷ lệ chiết khấu áp dụng và tỷ lệ chiết khấu ước tính cho
mục đích kiểm tra giảm giá trị của LTTM trong giai đoạn 2005 đến 2007.
Dữ liệu được thu thập và kết quả của nghiên cứu này sẽ khẳng định thêm
kết quả của các nghiên cứu trước đây về chất lượng trình bày và tính
tuân thủ bằng việc kiểm tra giảm giá trị của LTTM, cũng như tỷ lệ chiết
khấu tại các nước như Anh, Úc, Hồng Kông, New Zealand, Malaysia,
Singapore.
Bảng 1 trình bày số lượng
công ty và tỷ lệ % áp dụng tỷ lệ chiết khấu trong các khoảng điểm cơ
bản (bps) để điều tra sự biến động giữa tỷ lệ chiết khấu ước tính và tỷ
lệ chiết khấu áp dụng. Bảng 1 chỉ ra rằng có sự biến động lớn về số
lượng công ty trình bày trong các khoảng điểm cơ bản dựa trên tỷ lệ
chiết khấu ước tính. Cụ thể, số lượng công ty trình bày tỷ lệ chiết
khấu áp dụng trong khoảng hợp lý (từ -150 bps đến +150 bps) và trong
khoảng thấp hơn -250 bps có xu hướng giảm, trong khi đó số lượng công
ty trình bày tỷ lệ chiết khấu áp dụng trong khoảng lớn hơn +250 bps có
xu hướng tăng và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thể. Số lượng công ty
trình bày trong khoảng từ -250 bps đến -150 bps và +150bps đến +250 bps
có sự dao động và chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng thể. Như vậy, số lượng công ty
trình bày tỷ lệ chiết khấu áp dụng trong khoảng hợp lý chiếm tỷ trọng
35% trong năm 2005, 23% trong năm 2006 và 20% trong năm 2007. Số lượng
công ty trình bày tỷ lệ chiết khấu hoặc cao hơn hoặc thấp hơn khoảng
hợp lý chiếm tỷ trọng cao. Điều này phản ánh rằng tỷ lệ chiết khấu bị
trình bày sai lệch so với mức hợp lý (thực tế) chiếm tỷ trọng cao và
ảnh hưởng lớn đến giá trị có thể thu hồi của tài sản, qua đó ảnh hưởng
đến giá trị LTTM, chi phí giảm giá trị của tài sản và lợi nhuận trong
kỳ.
Bảng 2 trình bày số liệu so
sánh về giá trị trung bình của tỷ lệ chiết khấu do các công ty áp dụng
và tỷ lệ chiết khấu ước tính giữa các năm. Xét về giá trị trung bình,
tỷ lệ chiết khấu áp dụng năm 2005 được áp dụng ở mức hợp lý (8,93% so
với khoảng hợp lý từ 8,19% đến 11,08%). Tuy nhiên, tỷ lệ chiết khấu áp
dụng trong năm 2006 và 2007 bị ghi nhận cao hơn mức hợp lý (mức thực tế
cho phép) với các mức độ khác nhau. Cụ thể, tỷ lệ chiết khấu áp dụng
năm 2006 nằm trong khoảng +150bps đến +250bps (9,91% so với khoảng
9,89% đến 10,82%) và trong năm 2007 nằm trong khoảng cao hơn +250bps
(10,76% so với 10.57%). Rõ ràng rằng có xu hướng
biến động ngược nhau về tỷ lệ chiết khấu áp dụng và tỷ lệ chiết khấu
ước tính. Cụ thể, tỷ lệ chiết khấu áp dụng có xu hướng tăng lên, trong
khi đó tỷ lệ chiết khấu ước tính có xu hướng giảm xuống. Số liệu trong
Bảng 2 phản ánh rằng tỷ lệ chiết khấu áp dụng có xu hướng bị ghi cao
hơn so với mức hợp lý (mức thực tế cho phép). Cụ thể, ở mức bình quân,
tỷ lệ chiết khấu áp dụng năm 2005 trong khoảng hợp lý, năm 2006 trong
khoảng +150bps đến +250bps và năm 2007 cao hơn +250bps.
Bảng 3 trình bày giá trị
LTTM của các công ty trong các khoảng theo hệ thống điểm cơ bản. Số
liệu trong Bảng 3 phản ánh số dư LTTM của các công ty áp dụng tỷ lệ
chiết khấu trong khoảng hợp lý chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng thể
trong cả 3 năm và có xu hướng giảm dần. Số dư LTTM của các công ty áp
dụng tỷ lệ chiết khấu cao hơn khoảng hợp lý chiếm tỷ trọng cao hơn
nhiều so với số dư của các công ty áp dụng áp dụng tỷ lệ chiết khấu
thấp hơn khoảng hợp lý và biến động theo xu hướng ngược nhau. Nhất quán với số liệu trong
Bảng 1 và Bảng 2, tỷ trọng số dư LTTM trong tổng thể của các công ty áp
dụng tỷ lệ chiết khấu trong khoảng hợp lý có xu hướng giảm, trong khi
đó tỷ trọng số dư LTTM của các công ty áp dụng tỷ lệ chiết khấu cao hơn
mức hợp lý có xu hướng tăng lên. Rõ ràng rằng, tỷ lệ chiết khấu áp dụng
có xu hướng bị ghi cao hơn mức hợp lý sẽ làm cho giá trị có thể thu hồi
bị ghi nhận thấp hơn thực tế, giá trị LTTM bị ghi thấp hơn thực tế, chi
phí giảm giá trị của tài sản sẽ bị ghi nhận cao hơn thực tế và lợi
nhuận bị ghi thấp hơn thực tế. Như vậy, với hành vi cơ hội của các nhà
quản lý trong việc lựa chọn tỷ lệ chiết khấu đã ảnh hưởng đến kết quả
của mô hình chiết khấu luồng tiền và ảnh hưởng đến tính trung thực và
hợp lý của các chỉ tiêu trên BCTC. Kết quả của nghiên cứu này
phát hiện nhiều điểm mới so với các kết quả nghiên cứu trước đây, làm
giàu thêm cơ sở lý luận và bổ sung thêm vào kho tàng kiến thức về giảm
giá trị của LTTM. 6. Kết luận Ghi nhận, đo lường và báo
cáo LTTM, giảm giá trị và trình bày nó trong HKFRSs được coi là vấn đề
tranh luận nhất trong việc lập BCTC xét cả về lý luận và thực tiễn. Khi
áp dụng phương pháp giá trị sử dụng để xác định giá trị có thể thu hồi
của các CGUs, việc lựa chọn tỷ lệ chiết khấu được coi là nhân tố quan
trọng trong mô hình chiết khấu luồng tiền. Kết quả của nghiên cứu này
phát hiện ra rằng tỷ lệ chiết khấu áp dụng bị trình bày theo xu hướng
tăng lên, đó là cao hơn mức hợp lý và sự biến động giữa các năm là rất
lớn. Quả thật sẽ quá khó đối với người sử dụng BCTC trong việc đánh giá
tính trung thực và hợp lý của các chỉ tiêu trên BCTC. Có nhiều lý do giải thích
việc áp dụng tỷ lệ chiết khấu áp dụng cao hơn thực tế trong mô hình xác
định giá trị kinh tế. Một lý do có thể là sự hiểu sai phương pháp giảm
giá trị của tài sản, dẫn đến đơn vị áp dụng sai các quy định trong
chuẩn mực. Tuy nhiên, khả năng này có thể bị loại trừ thông qua thời
gian áp dụng và quy định hướng dẫn của chuẩn mực. Một lý do khác có thể
là việc các nhà quản lý cố tình che dấu lợi nhuận để trả ít cổ tức cho
cổ đông, giảm nghĩa vụ thuế phải nộp và làm cho kết quả kinh doanh cao
hơn thực tế. Như vậy, thông qua việc lựa chọn tỷ lệ chiết khấu, các
công ty trong mẫu có thể ấn định chi phí giảm giá trị của LTTM và lợi
nhuận kế toán trước khi áp dụng phương pháp giảm giá trị của LTTM. Cũng do phương pháp xác
định giảm giá trị của LTTM chưa thực sự hoàn thiện, dựa trên quá nhiều
các ước tính và xét đoán mang tính chủ quan, đã cho phép người lập BCTC
thực hiện hành vi cơ hội của mình, và như vậy có được kết quả theo ý
muốn chủ quan. Tại Việt Nam, chưa có chuẩn
mực nào quy định về sự giảm giá trị của tài sản. Hiện tại, tài sản được
ghi nhận theo nguyên giá và khấu hao lũy kế theo quy định hiện hành.
Mặc dù xuất hiện nhiều nhân tố bên trong và bên ngoài đơn vị làm giảm
giá trị của tài sản, đặc biệt trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế hiện
nay, dẫn đến việc giá trị có thể thu hồi của tài sản có thể thấp hơn
nhiều so với giá trị ghi sổ. Tuy nhiên chưa có chuẩn mực hướng dẫn nên
tài sản vẫn không bị ghi giảm bằng với giá trị có thể thu hồi. Thực sự,
việc xác định giá trị thực của tài sản ở Việt Nam chỉ là ảo tưởng trong
điều kiện hiện nay. Ý tưởng áp dụng phương pháp
kiểm tra giảm giá trị của tài sản là hoàn toàn tốt. Tuy nhiên, thông
qua kết quả của nghiên cứu này cho thấy hoàn toàn không đơn giản chuyển
từ ý tưởng sang thực tế. Do hành vi cơ hội được áp dụng trong việc kiểm
soát chi phí và lợi nhuận, dẫn đến các chỉ tiêu trên BCTC bị xuyên tạc
và làm ảnh hưởng đến tính trung thực và hợp lý của các chỉ tiêu trên
BCTC. Điều này gây ra sự lo lắng không chỉ đối với các cơ quan nhà
nước, người sử dụng BCTC mà còn đối với cả kiểm toán viên trong quá
trình tiến hành kiểm toán. Thạc sỹ Trần Mạnh DũngNghiên cứu sinh tiến sỹ Đại học Macquarie, Úc Tài liệu tham khảo
- Carlin, T. M. & Finch,
N., (2008a), Goodwill Impairment Testing Under IFRS-A False Impossible
Shore? , University of Sydney and MGSM Centre for Managerial Finance,
Working Paper.
- Carlin, T. M. & Finch,
N., (2008b), Discount Rates in Disarray : Evidence on Flawed Goodwill
Impairment Testing. University of Sydney and MGSM Centre for Managerial
Finance, Working Paper.
- Carlin, T. M., Finch, N.
& Ford, G., (2007a), "Are All Audits Born Equal?" Journal of
Applied Research in Accounting and Finance, vol. 2, iss. 1, pp. 21-32.
- Carlin, T. M., Finch, N.
& Ford, G., (2007b), Goodwill Impairment - An assessment of
Disclosure Quality and Compliant Level by Large Listed Australian
Firms. Macquarie Graduate School of Management - Working Paper 1/2007.
- Fernandez, P., (2003), Levered and Unlevered Beta. IESE Business School.
- Fernandez, P., (2008a), The Equity Premium in 100 books. IESE Business School, Working Paper.
- Fernandez, P., (2008b),
Market Risk Premium used in 2008: a survey of more than a 1,000
Professors. IESE Business School, Working Paper.
- Frc, (2008), Review of Goodwill Impairment Disclosure. Financial Reporting Council - UK.
- Gameiro, I. M., (2008), "Equity Risk Premia Across Major International Markets", Economic Bulletin, vol. iss., pp. 175-186.
- Hamada, R. S., (1972), "The
Effect of the firm's capital structure on the systematic risk of common
stocks", Journal of Finance, vol. 27, May, iss., pp. 435-452.
- Hoogendoorn, M., (2006),
"International Accounting Regulation and IFRS Implementation in Europe
and Beyond - Experiences with First-time Adoption in Europe",
Accounting in Europe, vol. 3, iss.
- Song, Z., (2007), "The
Equity Risk Premium: An Annotated Bibliography", The Research
Foundation of CFA Institute Literature Review, vol. iss., pp. 1-18.
(Theo Tạp chí Kinh tế và Phát triển)

Những bản tin khác:
|