Để thay đổi cách tư duy của chúng ta về rủi ro, chúng ta nên tránh mắc phải sáu sai lầm sau.
3. Không chịu nghe lời khuyên về
những gì không nên làm
Lời khuyên dạng "không
nên" thường thiết thực hơn rất nhiều so với dạng "nên". Ví dụ,
lời khuyên không nên hút thuốc mà bạn dành cho người khác sẽ có tác dụng hơn
những lời khuyên chung chung liên quan đến sức khỏe. Nhà nghiên cứu di truyền
học Druin Burch có lần phát biểu trên tạp chí Taking the Medicine rằng:
"Tác hại của việc hút thuốc tương đương với tổng lợi ích của các biện pháp
can thiệp y khoa được phát triển từ sau Thế Chiến II đến nay. Từ bỏ thói quen
hút thuốc sẽ mang lại nhiều lợi ích hơn việc có thể chữa khỏi bất kỳ loại ung
thư nào cho con người".
Tương tự như thế, nếu như các ngân
hàng ở Mỹ chịu lắng nghe các lời khuyên và không tự làm mình ngày càng gặp
nhiều hiểm nguy trước các biến cố xác suất thấp, ảnh hưởng lớn thì dù cho lợi
nhuận thu được có thể thấp hơn nhưng họ sẽ không rơi vào cảnh gần như phá sản
như hiện nay.
Các nhà tâm lý học xem xét hành động
"bỏ sót một công việc" và "thực hiện sai một công việc" là
hai vấn đề khác nhau. Mặc dù ảnh hưởng của nó xét trên phương diện kinh tế là
như nhau - không mất đi một đôla tức là có thêm một đôla - nhưng các nhà quản
lý rủi ro thì không nghĩ như thế. Họ quan tâm đến việc tạo ra lợi nhuận hơn
việc tránh thua lỗ. Tuy nhiên, trên thực tế, một công ty có thể thành công khi không
để thua lỗ trong khi đối thủ của nó đều phá sản và nhờ đó, công ty này có thể
giành lấy thị phần từ tay đối thủ.
Trong thi đấu cờ vua, các đại kiện
tướng tập trung làm sao không mắc sai lầm trong khi những "tân binh"
thì chỉ cố gắng làm sao chiến thắng. Cũng tương tự, các nhà quản lý rủi ro
không thích dòng tiền nằm yên mà không được mang đi đầu tư, và nhờ đó có thể
bảo toàn giá trị của nó. Tuy nhiên, hãy nghĩ mà xem bạn sẽ như thế nào khi danh
mục đầu tư của mình vẫn được giữ nguyên vẹn suốt hai năm qua thay vì giảm mất
40% như nhiều nhà đầu tư khác. Không thua lỗ gần một nửa kế hoạch về hưu của
mình chính là một thành công không cần bàn cãi.
Lời khuyên mà chỉ nói những điều
tích cực là thứ gì đó bịp bợm. Khu vực sách kinh doanh trong các hiệu sách thì
đầy ắp các câu chuyện thành công trong khi có quá ít đầu sách nói về thất bại.
Chính thái độ xem nhẹ lời khuyên cảnh báo những tiêu cực như thế khiến các công
ty xem nhiệm vụ quản trị rủi ro là một phần việc hoàn toàn tách biệt với tìm
kiếm lợi nhuận và dần xa rời bản chất vốn có của nó khi chỉ được thể hiện qua
việc truy hồi về quá khứ và giải thích cho những hiện tượng đã xảy ra.
Thay vì làm như vậy, các công ty hãy
tích hợp các hoạt động quản trị rủi ro vào trung tâm sinh lợi [1] và
xem đây là một trong những hoạt động tạo ra doanh thu, nhất là khi các công ty
dễ bị tác động bởi các biến cố Thiên Nga Đen.
4. Cho rằng có thể giới hạn được rủi
ro bằng độ lệch chuẩn
Độ lệch chuẩn - một khái niệm được
sử dụng trong tài chính như một công cụ kiểm soát rủi ro trong hoạt động đầu tư
- không nên được áp dụng trong quản trị rủi ro. Độ lệch chuẩn được tính bằng
căn bậc hai của các phương sai bình phương trung bình, chứ không phải phương
sai trung bình. Việc sử dụng bình phương và căn bậc hai khiến phương pháp tính
toán trở nên phức tạp. Nó chỉ có ý nghĩa trong môi trường mà sự ngẫu nhiên đã
"được thuần hóa", trong đó hai phần ba các thay đổi đều rơi vào một
số giới hạn nhất định (độ lệch chuẩn -1 và +1) và không thể có phương sai vượt
quá 7 độ lệch chuẩn.
Tuy nhiên, kiến thức nói trên không
thể áp dụng được trong thực tế khi mà các biến động có thể vượt quá 10, 20 hay
thỉnh thoảng lên đến 30 độ lệch chuẩn. Các nhà quản lý rủi ro cần tránh sử dụng
những phương pháp và cách tính toán liên quan đến độ lệch chuẩn như mô hình hồi
quy, R-square và beta.
Người ta hiểu rất ít về độ lệch
chuẩn. Ngay cả những chuyên gia phân tích định lượng cũng chưa hẳn hiểu thấu
khái niệm này. Chúng tôi thực hiện nhiều thử nghiệm vào năm 2007, chúng tôi cho
một nhóm các chuyên gia phân tích định lượng thông tin về dao động tuyện đối
trung bình (độ lệch tuyệt đối trung bình) của một loại cổ phiếu, và khi chúng
tôi yêu cầu họ thực hiện các phép tính, ngay lập tức họ nhầm lẫn nó với độ lệch
chuẩn.
Khi mà các chuyên gia còn nhầm lẫn
thì liệu rằng những người khác có thể tính toán đúng không? Trong bất kỳ trường
hợp nào, nếu như ai đó hy vọng rằng rủi ro có thể được thể hiện qua một con số
đơn thuần thì quả thật đó là một thảm họa.
5. Không hiểu rằng những gì tương
đương về mặt toán học thì không tương đương về mặt tâm lý học
Năm 1965, nhà vật lý học Richard
Feynman đã viết trong tác phẩm The Character of Physical Law rằng hai
công thức tương đương nhau về mặt toán học có thể không tương đương nhau ở cách
thể hiện của chúng trước bộ não con người. Tương tự, nghiên cứu của chúng tôi
cũng cho thấy cách thức trình bày một rủi ro sẽ ảnh hưởng đến cách hiểu của
chúng ta về nó. Nếu bạn nói với các nhà đầu tư rằng trung bình phải mất 30 năm
thì họ sẽ mất hết tài sản một lần thì họ sẽ sẵn sàng rót vốn hơn khi bạn nói
khả năng họ thua lỗ hết tiền là 3,3% mỗi năm.
Điều này cũng lặp lại với thí nghiệm
về di chuyển bằng máy bay. Chúng tôi hỏi những người tham gia vào thí nghiệm
rằng: "Bạn đang đi nghỉ ở nước ngoài và cân nhắc liệu có nên thử di
chuyển bằng một hãng hàng không ở nước ấy để ngắm hòn đảo đặc biệt ấy không.
Các thống kê về an toàn cho thấy trong 1.000 năm thì hãng hàng không này mới để
xảy ra 1 vụ tai nạn. Mà có lẽ sau này bạn không có dịp quay lại đất nước này
nữa. Bạn có muốn chọn hãng hàng không địa phương đó không?". Tất cả
người tham gia thí nghiệm đều trả lời "Có".
Sau đó, chúng tôi thay đổi câu thứ 2
như sau: "Các thống kê về an toàn cho thấy cứ 1.000 chuyến bay thì có 1
chuyến gặp tai nạn". Chỉ 70% số người tham dự nói rằng họ sẽ chọn
chuyến bay đó. Trong cả hai trường hợp, khả năng xảy ra tai nạn đều là 1 phần
1.000; nhưng cách tính sau nghe có vẻ rủi ro hơn rất nhiều.
Một viễn cảnh có vẻ càng lý tưởng
thì thường tiềm ẩn rủi ro càng cao. Lúc nào bạn cũng nên tìm kiếm nhiều phương
pháp thể hiện khác nhau của rủi ro để chắc chắn rằng bạn không bị hình thức
hoặc toán học đánh lừa.
6. Không có chỗ cho tình trạng dư
thừa nếu muốn đạt được hiệu quả và tối đa hóa giá trị của cổ đông
Hầu hết các nhà quản lý không nhận
thấy việc tối ưu hóa hoạt động có thể khiến công ty dễ gặp khó khăn trước những
thay đổi của môi trường. Các hệ thống phân loại sinh học cũng biết cách ứng phó
với thay đổi và Mẹ Thiên Nhiên là một nhà quản trị rủi ro hàng đầu. Điều đó một
phần là do bà yêu thích tình trạng dư thừa. Quá trình tiến hóa đã cho loài
người chúng ta thêm nhiều bộ phận dự phòng - chẳng hạn như chúng ta có 2
lá phổi và 2 quả thận - và nhờ đó mà chúng ta tồn tại.
Trong doanh nghiệp, tình trạng dư
thừa rõ ràng là biểu hiện của sự không hiệu quả: các năng lực bị
"treo", các thiết bị không được sử dụng, và tiền bạc nhàn rỗi. Ở khía
cạnh ngược lại, chúng ta được dạy rằng tác dụng đòn bẩy (nợ) là một điều tốt
đẹp. Nhưng không; nợ nần khiến cho công ty, và cả cấu trúc kinh tế, không còn
vững chãi. Nếu bạn lệ thuộc quá nhiều vào vay nợ, công ty bạn có thể sụp đổ nếu
như không thể đạt được doanh số dự báo, nếu như lãi suất biến động hay nếu như
các rủi ro khác cùng ập đến. Nếu trong sổ cái kế toán của bạn sạch nợ, bạn sẽ
đối phó với thay đổi tốt hơn.
Chuyên môn hóa cao độ cũng cản trở
sự tăng trưởng của công ty. Theo lý thuyết về lợi thế so sánh của David
Ricardo, để tối ưu hóa hiệu quả, một nước nên chuyên sản xuất rượu vang còn
nước kia thì chuyên sản xuất quần áo,... Nhưng lập luận này đã bỏ qua yếu tố:
những thay đổi đột ngột. Điều gì sẽ xảy ra khi giá rượu vang giảm mạnh? Vào
thập niên 1800, nhiều nền văn hóa ở Arizona và New Mexico đã biến mất vì họ lệ
thuộc hoàn toàn vào một vài loại cây lương thực nên kết quả là họ không thể
sống sót khi thời tiết có biến động mạnh.
Một trong những câu chuyện thần
thoại về chủ nghĩa tư bản là động cơ thúc đẩy làm việc... và cả bãi công nữa.
Cuộc đời của mỗi người đều phải có những lúc thăng trầm. Tuy nhiên, bản chất
của tiền phúc lợi chính là một trong những yếu tố làm tăng mức độ rủi ro. Nếu
bạn trao cho ai đó một khoản tiền thưởng mà không kèm theo điều khoản thu hồi,
người ấy sẽ có động lực để che giấu rủi ro bằng cách tham gia vào những giao
dịch có nhiều khả năng tạo ra các khoản lợi nhuận nhỏ và ít khả năng đổ vỡ. Các
nhà quản lý cứ theo đó mà nhận thưởng đều đặn mỗi năm. Nếu sau cùng đổ vỡ cũng
xảy ra thì họ sẽ xin lỗi nhưng không bị buộc phải hoàn trả các khoản thưởng.
Điều này cũng đang thực sự diễn ra
tại nhiều tập đoàn. Đó là lý do vì sao nhiều CEO trở nên giàu có trong khi các
cổ đông thì vẫn nghèo. Xã hội và các cổ đông cần phải có quyền lực pháp lý để
thu hồi các khoản thưởng đối với những ai không đáp ứng được yêu cầu. Điều đó
sẽ giúp thế giới này tốt đẹp hơn.
Hơn nữa, chúng ta không nên trao các
khoản tiền thưởng cho những người quản lý các tập đoàn lớn như nhà máy hạt nhân
hay ngân hàng. Nhiều khả năng họ sẽ tham của rẻ tiền để tối đa hóa lợi nhuận.
Xã hội chúng ta đang giao trọng trách quản trị rủi ro lớn nhất cho quân đội
nhưng quân nhân thường không được nhận thưởng.
Xin hãy nhớ rằng rủi ro lớn nhất nằm
trong chính bản thân chúng ta: Chúng ta đánh giá cao khả năng của mình nhưng
đánh giá thấp nguy cơ dẫn đến thất bại. Thần thoại Hy Lạp cũng có không ít minh
họa cho cái giá phải trả của thói ngạo mạn: Achilles và Agamemnon chết vì tính
ngạo mạn; Xerces thất bại khi tấn công Hy Lạp vì thói tự phụ; và nhiều thống
soái xuyên suốt lịch sử đã phải bỏ mạng vì không nhận ra giới hạn của bản thân.
Bất kỳ tập đoàn này không nhận ra "Gót chân Achilles" của mình sẽ
thất bại.
- Bài viết của các tác giả Nassim N.
Taleb, Daniel G. Goldstein và Mark W. Spitznagel trên Harvard Business Review -
1 Trung
tâm sinh lợi: từ gốc là profit center, khái niệm này được hiểu như một chi
nhánh hay phòng ban của một công ty có khả năng tự mình độc lập mang về lợi
nhuận. Doanh thu và chi phí của trung tâm sinh lợi này sẽ được hạch toán
độc lập đề nhờ đó tính toán được hiệu quả sinh lợi của nó.